Không chỉ là phương pháp chăm sóc sức khỏe dân gian, giác hơi là kỹ thuật có lịch sử hàng nghìn năm và hiện nay đã được Bộ Y tế chuẩn hóa, ban hành quy trình nghiêm ngặt trong danh mục kỹ thuật chuyên khoa Y học cổ truyền. Tại Đơn vị Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, kỹ thuật này được sử dụng như một phương pháp điều trị hỗ trợ kiểm soát đau mạn tính, cải thiện tuần hoàn tại chỗ và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
Giác hơi sử dụng các ống giác bằng thủy tinh, tre, sành sứ hoặc nhựa chân không đặt lên da tại những vùng cơ dày hoặc huyệt vị. Bằng cách tạo áp lực âm dưới da thông qua nhiệt hoặc bơm hút, kỹ thuật này tạo phản ứng xung huyết tại chỗ, qua đó được sử dụng với mục đích hỗ trợ điều trị một số tình trạng bệnh lý.
Theo Y học cổ truyền, giác hơi tạo lực hút cơ học lên da, kích thích tuần hoàn khí huyết, điều hòa âm dương và hỗ trợ loại bỏ các yếu tố gây bệnh. Đặc biệt, Do có yếu tố nhiệt (ở giác lửa), phương pháp này đặc biệt hiệu quả với các chứng bệnh do Hàn (lạnh) gây ra.
Dưới góc nhìn Y học hiện đại, áp lực âm từ giác hơi có thể làm giãn mạch máu ngoại vi, tạo những thay đổi cơ học tại da, tăng ngưỡng đau tại chỗ, tác động đến phản ứng viêm và các cơ chế liên quan đến hệ thần kinh – nội tiết – miễn dịch.
Giác hơi được ứng dụng trong những trường hợp nào?
Tùy mục tiêu điều trị và tình trạng người bệnh, giác hơi có nhiều phương pháp khác nhau. Về kỹ thuật, có giác hơi khô – chỉ tạo áp lực hút; giác hơi ướt – kết hợp chích lể da trước khi úp giác; giác lửa sử dụng nhiệt để tạo áp lực âm và giác chân không sử dụng bơm hút.

Ngoài ra còn có các hình thức kết hợp như giác hơi thảo dược, giác nước, giác ngải cứu hoặc giác kết hợp với châm cứu. Theo cách tác động, giác hơi có thể được thực hiện cố định tại một vị trí hoặc di chuyển trên vùng da đã được bôi trơn.
Trong thực hành lâm sàng, giác hơi có thể được sử dụng hỗ trợ ở nhiều nhóm triệu chứng. Với các chứng đau cơ xương khớp, kỹ thuật này có thể được áp dụng trong chứng đau lưng, đau vai gáy, đau khớp gối, hội chứng ống cổ tay, gân xương ê ẩm do phong thấp.
Một số ứng dụng khác gồm hỗ trợ điều trị đau đầu, đau nửa đầu, liệt mặt, một số triệu chứng hô hấp và tiêu hóa, phục hồi sau vận động thể thao hoặc hỗ trợ giảm căng thẳng.
Theo Y học cổ truyền, giác hơi cũng được sử dụng trong một số trường hợp được quy vào nhóm “ngoại cảm phong hàn”, với các triệu chứng như đau đầu, sợ lạnh, ngột ngạt. Vị trí giác sẽ được lựa chọn tùy tình trạng, có thể ở vùng đầu cổ, lưng hoặc thắt lưng.
Tuy nhiên, giác hơi không phải phương pháp phù hợp với tất cả mọi người. Việc chỉ định cần được đánh giá dựa trên tình trạng sức khỏe và mục tiêu điều trị.
Những trường hợp chống chỉ định gồm người có bệnh lý nặng, suy chức năng cơ quan nghiêm trọng, rối loạn đông máu hoặc bệnh lý làm tăng nguy cơ chảy máu. Người mang máy tạo nhịp tim cũng không nên thực hiện kỹ thuật này.
Không giác trên vùng da đang viêm nhiễm cấp tính, vết thương hở, vùng giãn tĩnh mạch hoặc những vị trí có mạch máu nông. Cũng cần tránh các vùng tim đập, vùng da quá mỏng hoặc nhiều nếp nhăn.
Người đang say rượu, quá đói, quá no hoặc suy nhược nặng cũng không nên thực hiện. Phụ nữ mang thai cần đặc biệt lưu ý, không giác tại vùng bụng dưới và thắt lưng.
Đối với người bệnh ung thư, việc sử dụng giác hơi cần được bác sĩ đánh giá cụ thể, đặc biệt không thực hiện trên vùng có tổn thương ung thư hoặc những vùng tổn thương cấu trúc chưa được kiểm soát.
Thực hiện đúng kỹ thuật để hạn chế tai biến
Tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, giác hơi được thực hiện bởi nhân viên y tế có chuyên môn Y học cổ truyền và tuân thủ quy trình kỹ thuật.
Với giác lửa, nhân viên y tế sử dụng bông thấm cồn, đốt để làm nóng và đuổi không khí trong ống giác, sau đó nhanh chóng đặt ống lên da để tạo áp lực âm. Phương pháp này cần được thực hiện thận trọng và không sử dụng trong phòng có hệ thống cung cấp oxy do nguy cơ cháy.
Với giác chân không, nhân viên y tế sử dụng bộ giác bằng nhựa kết hợp súng bơm hút để chủ động điều chỉnh mức áp lực âm phù hợp.

Giác cố định thường được thực hiện bằng giác lửa hoặc giác chân không, đặt tại các huyệt vị hoặc vùng cơ cần tác động như lưng, bụng, đùi. Thời gian lưu ống giác khoảng 5-15 phút, tùy phương pháp và khả năng thích ứng của người bệnh.
Trong khi đó, với giác di chuyển, ống giác có miệng nhẵn được trượt liên tục trên vùng da đã bôi trơn, thường thực hiện trên diện rộng dọc theo các vùng được lựa chọn, cho đến khi da xuất hiện tình trạng đỏ.
Tùy tình trạng bệnh, liệu trình có thể được thực hiện 1-2 lần mỗi ngày, mỗi lần lưu giác khoảng 5-15 phút. Một liệu trình thông thường kéo dài 5-7 ngày và có thể được lặp lại hoặc thực hiện ngắt quãng theo chỉ định.
Một biểu hiện thường gặp sau giác hơi là những vùng da tròn có màu đỏ sẫm hoặc tím nhạt. Đây là phản ứng xung huyết ở các mạch máu nhỏ dưới da do lực hút tạo ra. Các vết này thường tự giảm và biến mất sau vài ngày.
Dù được đánh giá là kỹ thuật tương đối an toàn khi thực hiện đúng, giác hơi vẫn có thể xảy ra tai biến nếu thực hiện không đúng kỹ thuật. Vì vậy, kiểm soát nhiễm khuẩn là yêu cầu quan trọng. Nhân viên y tế cần vệ sinh tay, mang găng tay, khẩu trang; sát khuẩn da người bệnh bằng cồn 70 độ trước khi thực hiện. Dụng cụ giác phải được làm sạch và tiệt khuẩn trước, sau khi sử dụng cho từng người bệnh.
Trong trường hợp người bệnh có biểu hiện hoa mắt, vã mồ hôi lạnh, choáng, mạch nhanh, cần lập tức tháo toàn bộ ống giác, cho người bệnh nằm đầu thấp, giữ ấm và xử trí theo phác đồ phù hợp.
Nếu xảy ra bỏng nhiệt trong quá trình giác lửa, phải tháo ống giác, đánh giá mức độ tổn thương và xử trí theo phác đồ điều trị bỏng.
Sau khi thực hiện, người bệnh cần giữ ấm cơ thể, tránh gió lùa và không tắm hoặc để vùng giác tiếp xúc với nước trong khoảng 2 giờ đầu.
Giác hơi vì vậy không đơn thuần là một phương pháp chăm sóc sức khỏe truyền miệng mà là một kỹ thuật điều trị chuyên khoa Y học cổ truyền cần được thực hiện bởi nhân viên y tế có chứng chỉ hành nghề Y học cổ truyền và tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật chuyên môn.
